Tá dược là gì? Các loại tá dược phổ biến

Tá dược là gì? Vai trò của chúng và những loại tác dược phổ biến thường được sử dụng là gì? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé!

Tá dược là gì?

Tá dược được hiểu là những chất không có hoạt tính (dược lý hoặc sinh học) được sử dụng trong bào chế thuốc. Thông thường công thức bào chế thuốc có chứa nhiều thành phần có hoạt chất có tác dụng dược lý mạnh nên cần phải có tá dược pha loãng. Các tác dược cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng giải phóng, hấp thu dược chất thuốc trong cơ thể.

Tá dược giúp ích cho quá trình pha chế, sản xuất thuốc chẳng hạn như tăng độ hòa tan, tăng tính trơn chảy của hạt thuốc.

Ngoài ra, tá dược có vai trò quan trọng trong độ ổn định của thuốc giúp thuốc có thể đạt được hạn sử dụng như mong muốn.

Tá dược là gì

Vai trò của tá dược đối với tác dụng của thuốc

Hầu hết thuốc tây y có cùng hoạt chất, hàm lượng gần như nhau nhưng tác dụng lại khác nhau. Lý giải cho điều này bởi để giữ độc quyền các công ty chỉ công bố thành phần hoạt chất chính mà không công bố tác dược đi kèm.

Tá dược được hiểu là chất phụ gia, sử dụng trong công nghệ sản xuất dược phẩm nhằm ổn định về mặt hóa học, vật lý, sinh học và mặt vi trùng học…

Bên cạnh đó, tá dược còn có tác dụng đưa hoạt chất vào những cơ quan, vị trí cần thiết giúp phát huy tốt nhất công dụng của thuốc. Tuy nhiên, nếu dùng riêng biệt thì tá dược lại không hề có tác dụng trị bệnh.

Tác dụng phụ của tá dược

Các nhà khoa học cho biết, mặc dù tá dược được dùng trong sản xuất thuốc chữa bệnh nhưng chúng không phải lúc nào cũng là các chất trơ về mặt sinh học nên có thể ảnh hưởng cho người dùng thuốc. Tá dược cũng có thể khiến khả năng hấp thu thuốc bị thay đổi, gây tác hại.

Một số trường hợp cụ thể

  • Thực tế, các bác sĩ cũng đã ghi nhận: Một số bệnh nhân bị ngộ độc khi sử dụng thuốc hỗn dịch sulfanilamid 10% do công ty sản xuất thuốc dùng tá dược tá dược ethylenglycol thay cho tá dược glycerin.
  • Trước đây, có hàng trăm trẻ em châu Phi bị ngộ độc và chết do uống siro paracetamol được bào chế pha trong tá dược ethylenglycol thay cho tác dược propylenglycol.
  • Năm 1968, tại bệnh viện Brisban, Úc xảy ra một trường hợp bị ngộ độ do sử dụng thuốc viên dipenylhydantoin trong bào chế đã dùng tá dược lactose thay thế tá dược calci sulfat.

Tại sao tá dược lại có thể gây tác dụng phụ

Lý do dẫn đến tình trạng ngộ độc trên được xác định đều là do các công ty sản xuất thuốc đã sử dụng tá dược khác thay thế. Vì vậy đã làm tăng sự hấp thụ hoạt chất của thuốc lên rất nhiều lần, vượt ngưỡng tối đa của liều điều trị. Đồng thời, gan cũng không còn đủ khả năng để loại bỏ, giải độc nữa.

Ngoài ra, chất đệm ở trong thuốc vừa tạo môi trường pH thích hợp giúp ổn định thuốc về mặt hóa học vừa tác động lên môi trường phát huy tác dụng sinh học. Do đó, có thể gây tác dụng ngược của thuốc.

Các nhà khoa học đã ghi nhận rằng:

  • Nếu pH thấp: Mandelic, acid benzoic, salicylic kháng khuẩn cao nhất.
  • Nếu pH kiềm và trung tính: Thuốc phải có nồng độ cao gấp 20 lần mới có thể gây được cùng tác dụng như ở độ pH 2,3.

Chất bảo quản thuốc có tác dụng chống oxy hóa, kháng khuẩn có thể gây tác dụng ngược như sử dụng paraben. Và phenol có thể làm cho hỗn dịch steroid bị kết tụ lại. Nếu pha loãng hỗn dịch tiêm và dung môi chứa chất bảo quản này thì thuốc có thể gây ra phản ứng cho người bệnh khi dùng.

Tá dược là gì

Các loại tá dược thường gặp

Sau đây là những loại tá dược phổ biến nhất hiện nay:

Chất chống dính

Có tác dụng làm giảm độ dính giữa những hạt thuốc, giúp những viên thuốc không dính vào nhau. Magie stearat là chất thường được dùng.

Chất kết dính

Đóng vai trò gắn kết những thành phần của thuốc lại với nhau. Chất kết dính tạo lực liên kết đủ mạnh giữa những hạt trong thuốc, đồng thời làm tăng thể tích những chất kém hoạt động trong thuốc. Những chất kết dính được sử dụng nhiều là:

  • Saccharide và các dẫn xuất bao gồm:
    • Disaccharide: Sucrose, lactose.
    • Polysaccharide và các dẫn xuất: Tinh bột, cellulose, chế phẩm của cellulose (Microcrystalline cellulose), cellulose ether (Hydroxypropyl cellulose – HPC).
    • Đường polyol: Maltitol, xylitol, sorbitol.
  • Protein: Gelatin.
  • Polyme tổng hợp: Polyetylen glycol (PEG), polyvinylpyrrolidon (PVP).

Theo mục đích sử dụng thì có những loại chất kết dính sau:

  • Chất kết dinh hòa tan: Được hòa tan trong một dung dịch dùng trong thuốc dạng nước. Chẳng hạn như: Tinh bột, cellulose, chế phẩm cellulose, gelatin, polyvinylpyrrolidon, polyetylen glycol, sucrose.
  • Chất kết dính khô: Thêm vào thuốc bột hoặc quy trình ép thuốc bột. Chẳng hạn như: metyl cellulose, polyetylen glycol, polyvinylpyrrolidon, cellulose.

Chất bao phủ

Vò thuốc đóng vai trò bảo vệ thuốc không bị phân hủy do độ ẩm, hoặc dễ uống hơn đối với các loại thuốc có mùi vị khó chịu.

  • Hầu hết, thuốc được bọc bởi lớp cellulose ether hydroxypropyl metylcellulose (HPMC) không đường, không chất gây dị ứng. Đôi khi có thể được thay thế bằng một số chất khác, chẳng hạn như protein bắp zein, polyme tổng hợp sơn cánh kiến hoặc polysaccharide khác.
  • Thuốc nang được bao phủ bằng gelatin.

Tá dược là gì

Chất làm tan

Đây là chất đóng vai trò bảo đảm thuốc gặp nữa sẽ vỡ thành nhiều mẩu nhỏ, hòa tan nhanh hơn. Nhờ vậy mà thuốc sẽ vỡ được trong ống tiêu hóa, giải phóng hoạt chất giúp cơ thể hấp thu. Một số chất làm tan như:

  • Tinh bột biến tính
  • Những polyme mạch cầu: croscarmellose (còn được gọi là natri carboxymetyl cellulose mạch cầu), crospovidon (còn được gọi là polyvinylpyrrolidon mạch cầu).

Chất làm đầy

Chất làm đầy có vai trò làm tăng thể tích của thuốc, nang thuốc giúp sản xuất và sử dụng thuốc thuận tiện hơn. Chất làm đầy được coi là tốt nếu nó trơ về mặt hóa học, không hút ẩm, phù hợp với những thành phần khác, không mùi, không vị (nếu có thì vị dễ chịu), kết đặt tốt và rẻ.

Một số chất làm đầy thường được sử dụng:

  • Cellulose: Sử dụng trong thuốc nang, thuốc viên.
  • Dicanxi photphat cũng rất được ưa chuộng.
  • Dầu thực vật: Sử dụng trong thuốc nang.
  • Các chất làm đầy khác: Magiê stearat, canxi cacbonat, sorbitol, mannitol, glucose, sucrose, lactose.

Hương liệu

Hương liệu tạo mùi để giúp lấn át vị khó chịu của thuốc và thuốc dễ uống hơn. Hương liệu thường có nguồn gốc tự nhiên chiết xuất từ hoa quả học có thể tổng hợp.

Một số loại hương liệu như:

  • Vị mặn: Mùi mơ, đào
  • Vị đắng: Mùi anh đào, mùi bạc hà
  • Vị chua: Mùi cam thảo, mùi phúc bồn tử
  • Vị rất ngọt: Mùi vani

Màu thực phẩm

Để làm tăng mẫu mã cho thuốc thì nhà sản xuất sử dụng chất tạo màu. Độ bền của mỗi màu sẽ giúp phân biệt được các loại thuốc khác nhau.

Chất bảo quản

Những chất bảo quản được sử dụng phổ biến gồm:

  • Acid citric và natri citrat
  • Axit amin như methionine và cysteine
  • Chất chống oxy hóa như vitamin A, vitamin C, vitamin E.

Chất làm ngọt

Để cho thuốc có vị dễ chịu thì nhà sản xuất sẽ sử dụng chất làm ngọt. Chẳng hạn như thuốc nhai antacid hoặc siro. Hoặc có thể sử dụng đường để lấn át vị, mùi của thuốc.




Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *